Góc nhìn

Cách phân loại quốc gia hiện nay và bước tiến của Việt Nam trong tương quan với các nước ASEAN

Sau thế chiến thứ 2, thế giới được chia thành 2 hệ thống chính trị lớn là TBCN và XHCN. Đến thập niên 1960, sau khi hàng loạt các quốc gia mới được thành lập từ phong trào giải phóng dân tộc, khái niệm “thế giới thứ 3” ra đời. Các nước thuộc “thế giới thứ 3” đứng giữa “ngã ba đường”, một nhóm thân TBCN hơn, một số thì thân với XHCN, đa số thì chọn con đường trung lập để phát triển. Việt Nam thời này là “lá cờ đầu của phong trào giải phóng dân tộc” và sau năm 1954 được xếp vào nhóm các nước thế giới thứ 3 thân với XHCN.

Những năm 1960 và 1970, các nước XHCN và các nước TBCN cạnh tranh gay gắt, cả về phát triển kinh tế – xã hội, khoa học – kỹ thuật lẫn tầm ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế. Cục diện quốc tế lúc đó chịu ảnh hưởng bởi các cuộc chạy đua giữa phe XHCN (Liên Xô, Đông Âu và Trung Quốc) với phe TBCN (Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản), điểm xuyết là những “điểm nóng” như Chiến tranh Việt Nam, các cuộc xung đột ở Trung Đông, khủng hoảng tên lửa Cu Ba… Việt Nam khi đó được coi là một trong những thành trì của Chủ nghĩa xã hội, chống lại chế độ thực dân kiểu mới do các nước TBCN áp đặt cho thế giới thứ 3.

Đến cuối những năm 1970, đầu những năm 1980, khái niệm “thế giới thứ 3” khiến nhiều nước không hài lòng. Đồng thời, nhiều nước thuộc nhóm này đã thành công trong công cuộc phát triển kinh tế – xã hội. Điển hình là nhóm “các con hổ châu Á” và các nước Trung Đông giàu lên nhanh chóng nhờ khai thác dầu mỏ. Trong quan hệ quốc tế, người ta đưa ra các khái niệm dựa trên trình độ phát triển của các quốc gia để phân loại thành: các nước phát triển (gồm Bắc Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Australia và New Zealand…, Liên Xô, các nước Đông Âu, một số nước ở Nam Mỹ, một số nước ở Trung Đông…); các nước đang phát triển (những nước đang có những bước phát triển đáng kể tại châu Á, châu Phi và châu Mỹ latin); những nước chậm phát triển (những nước nghèo và chưa bắt kịp được bước phát triển kinh tế của thế giới thời hậu chiến). Trong số các nước phát triển, người ta lại chia ra thành các nhóm như: siêu cường (gồm Mỹ và Liên Xô), G7 (gồm 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới thuộc phe TBCN) và sau đó là nhóm G 20 (gồm 20 nền kinh tế hàng đầu thế giới). Thời kỳ này, Việt Nam bị xếp vào nhóm chậm phát triển, đồng thời nằm trong nhóm nghèo nhất thế giới.

Các khái niệm kể trên tồn tại đến sau khi Liên Xô tan rã và Đông Âu sụp đổ. Đến thời gian này, các khái niệm “phe XHCN”, “phe TBCN”, “thế giới thứ 3” trở nên lạc hậu. Thay vào đó, người ta chỉ sử dụng các khái niệm: các nước phát triển, các nước đang phát triển và các nước chậm phát triển. Đi kèm với đó, người ta cũng phân loại các nước theo cơ cấu nền kinh tế gồm các nước công nghiệp (hiện đại) và phần còn lại (lạc hậu hơn). Sự kết hợp của các sự phân loại trên đã dẫn tới các khái niệm như nước công nghiệp phát triển, nước hậu công nghiệp. Thời kỳ này đánh dấu hàng loạt những nước đạt được các kỳ tích về phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là ở châu Á. Từ nhóm chậm và đang phát triển, những Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hongkong vươn lên nhóm nước phát triển. Bên cạnh đó, sự trỗi dậy của Trung Quốc, Ấn Độ cùng tốc độ phát triển cao của các nước ASEAN 5 và một số nước đang phát triển khác khiến người ta phải xem xét lại về cách phân loại các quốc gia.

Sang đến Thế kỷ XXI, thế giới tiếp tục phát triển và biến đổi. Dần dần, việc phân loại theo trình độ phát triển không còn phù hợp nữa. Việc phân loại theo cơ cấu kinh tế cũng không hoàn toàn chính xác. Đặc biệt khi thế giới bước sang kỷ nguyên CNTT, số hoá, trí tuệ nhân tạo và nhất là Cách mạng công nghiệp 4.0 ứng dụng rất rộng rãi đến mọi mặt đời sống. Đến sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008), dần phổ biến xu hướng dùng chỉ số thịnh vượng làm thước đo để phân loại các quốc gia. Giờ đây, người ta chia các quốc gia thành 4 loại chính gồm: các nước thu nhập cao; các nước thu nhập trung bình cao; các nước thu nhập trung bình thấp và cuối cùng là các nước thu nhập thấp.

Theo cách phân loại này, các mốc để phân nhóm gồm: GDP 1.000 USD/người/năm là mốc để phân biệt giữa nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình thấp; GDP 3.500 USD/người/năm là mốc phân biệt giữa nước thu nhập trung bình thấp và thu nhập trung bình cao; 11.500 USD/người/năm là mốc phân biệt giữa nước thu nhập trung bình cao và nước thu nhập cao (đây là con số tương đối và được điều chỉnh tăng lên theo sự mất giá đồng tiền). Cùng với sự phân loại này, người ta đưa ra khái niệm “bẫy thu nhập trung bình” để nói về khoảng thời gian cần thiết để một nước phải vượt qua để từ mốc thu nhập trung bình vươn lên nhóm thu nhập cao và tiếp tục phát triển hướng tới thịnh vượng.

Quan niệm phổ biến về bẫy thu nhập trung bình và vượt qua bẫy thu nhập trung bình như sau:

  • Mốc tính thời gian để vượt qua bẫy thu nhập trung bình là khi quốc gia đó phải: (1) đạt được thu nhập trung bình và; (2) đạt tốc độ tăng trưởng cao và liên tục qua nhiều thập kỷ;
  • Điều kiện để quốc gia có cơ hội vượt qua bẫy thu nhập trung bình là phải có tiềm lực và động lực phát triển. (1) Tiềm lực thể hiện qua các yếu tố tự nhiên như tài nguyên thiên nhiên, đất đai, khí hậu, vị trí địa lý, các yếu tố xã hội như tuổi trung bình thấp (dân số trẻ), chỉ số phát triển con người (y tế, giáo dục), các yếu tố về chính trị và vĩ mô như ổn định chính trị, đường lối, chính sách đúng đắn, môi trường quốc tế thuận lợi… (2) động lực phát triển thể hiện qua nỗ lực và quyết tâm của Chính phủ, doanh nghiệp và của mỗi người dân để vươn lên với khát vọng thịnh vượng trải qua nhiều thế hệ;
  • Thời gian để vượt qua bẫy thu nhập trung bình là 1 thế hệ phát triển (25-30 năm). Quá thời gian này mà vẫn chưa vươn lên nhóm nước có thu nhập cao thì bị coi là “mắc bẫy thu nhập trung bình”.

Ở khu vực Đông Nam Á, thập niên 1980 là khoảng thời gian nhóm ASEAN 5 (Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Philippines) đều đã đạt mức thu nhập trung bình (khoảng thời gian chính xác và mức thu nhập bình quân đầu người khác nhau). Tính cho đến nay, tất cả ASEAN 5 đều đã có hơn 30 năm để vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Thế nhưng mới chỉ có duy nhất Singapore thực sự đã vượt qua bẫy thu nhập trung bình vào thập niên 1990 (trong khoảng 20 năm, từ 1971 đến 1990) và đến nay, họ đã lọp vào nhóm những nước có thu nhập bình quân đầu người hàng đầu thế giới. Số còn lại, nước duy nhất có cơ hội thoát bẫy thu nhập trung bình là Malaysia. Có thể nói, Covid-19 đã cản trở việc Malaysia chính thức được công nhận là nước thu nhập cao. Trong vài năm tới, Malaysia sẽ chính thức được công nhận là nước có thu nhập cao. Tuy nhiên, họ thoát bẫy thu nhập trung bình hơi chậm (khoảng hơn 40 năm, từ 1977 đến nay) và hiện đã khai thác gần hết các tiềm lực và động lực phát triển. Nói cách khác, Malaysia chậm chân hơn và kém thành công hơn so với các đối thủ ở Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan.

Xếp sau Malaysia, ở khu vực Đông Nam Á có Thái Lan, Indonesia và Philippines. Trong số này, Philippines đáng tiếc nhất vì sau thế chiến 2, họ là nước châu Á có tiềm lực và lợi thế nhất để vươn lên thịnh vượng, nếu không tính đến Nhật Bản (đã đạt đến trình độ công nghiệp phát triển từ trước thế chiến thứ 2). Đến những năm 1970, Philippines vẫn thuộc nhóm dẫn đầu Đông Nam Á về trình độ phát triển nhưng sau đó, đảo chính và các bất ổn chính trị giữa những năm 1970 đã dần bào mòn tiềm lực và lợi thế phát triển kinh tế của họ. Có thể nói, trong nhóm ASEAN 5, Philippines là nước mắc bẫy thu nhập trung bình lâu nhất và khó có cơ hội thoát ra.

Indonesia có thu nhập bình quân đầu người nhỉnh hơn Philippines và cũng đã mắc vào bẫy thu nhập trung bình khoảng 30 năm. Tuy vậy, trường hợp của Indonesia ít đáng tiếc hơn bởi họ là nước đông dân nhất Đông Nam Á (hơn 270 triệu dân, chiếm khoảng 40% dân số ASEAN) và có xuất phát điểm khá thấp, lại vướng phải các bất ổn chính trị và phong trào đòi li khai của Timo Leste.

Một trường hợp mắc vào bẫy thu nhập trung bình một cách đáng tiếc nữa là Thái Lan. Mặc dù kinh tế đi sau Malaysia khoảng hơn 10 năm với GDP bình quân đầu người khoảng bằng 1/3 của Malaysia khi bước vào thập niên 1980, nhưng Thái Lan đã có những bước phát triển thần kỳ trong khoảng 1 thập kỷ từ giữa những năm 1980 đến giữa những năm 1990. Năm 1996, GDP Thái Lan tăng gấp 3,7 lần so với năm 1986. Nhờ vậy, GDP bình quân đầu người của Thái Lan bằng khoảng 2/3 so với Malaysia thay bằng 1/3 trước đó một thập niên. Tuy vậy, sau cú sốc khủng hoảng tài chính Đông Á (1997-1998), dù gượng dậy khá nhanh nhưng tốc độ tăng trưởng của Thái Lan chậm lại, bằng khoảng 2/3 so với thập niên trước đó. Nhưng chưa hết, sau những cuộc đảo chính ngày càng dầy đặc nhằm loại bỏ Hoa kiều khỏi chính trường, cộng với các cuộc biểu tình và phản biểu tình giữa các phe phái, kinh tế Thái Lan dần đánh mất động lực phát triển. Những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế và độ tuổi trung bình của Thái Lan tương đương với các nước thu nhập cao (Singapore) hoặc chuẩn bị thoát bẫy thu nhập trung bình (Malaysia) trong khu vực. Nói một cách khác, Thái Lan “chưa giầu đã già” và ngày càng chậm chạp.

Trong số các nước bị coi là chậm phát triển nhất của khu vực Đông Nam Á (gồm Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam – nhóm CLMV), Việt Nam là nước được đánh giá cao nhất về tiềm năng phát triển để có thể sánh ngang với ASEAN 5. Thực tế, sau hơn 3 thập kỷ phát triển, Việt Nam đã hoà nhập vào nhóm ASEAN 5 để tạo nên ASEAN 6, gồm 6 nền kinh tế hàng đầu khu vực Đông Nam Á.

Việt Nam đã có hơn 30 năm tăng trưởng liên tục, với tốc độ cao và rất cao để thu hẹp một cách đáng kể khoảng cách với ASEAN 5. Đến 2020, GDP của Việt Nam đã vượt qua Malaysia và Singapore, GDP bình quân đầu người đã vượt qua Philippines. Nhưng, thời gian để Việt Nam vượt bẫy thu nhập trung bình thì ít hơn rất nhiều. Bởi, Việt Nam bắt đầu phát triển kinh tế từ vị thế rất thấp – nhóm những nước nghèo nhất thế giới. Cần tới 20 năm (1990 – 2010) để Việt Nam từ nhóm nước nghèo nhất thế giới, vươn lên thoát nghèo, gia nhập nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp.

Tiếp theo, trong một thập kỷ vừa qua, Việt Nam tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững để tiệm cận nhóm các nước có thu nhập trung bình cao. Dự kiến, đến năm 2023, Việt Nam sẽ chính thức gia nhập nhóm các nước thu nhập trung bình cao (gấp 3,5 lần so với mốc thu nhập trung bình thấp). Nếu cập nhật tính toán lại GDP trong năm 2021, thì chắc chắn Việt Nam đạt mức GDP bình quân đầu người của nước có thu nhập trung bình cao trong năm nay, thậm chí là từ 2020. Như vậy, chỉ cần hơn 1 thập kỷ, Việt Nam đã vượt qua ngưỡng thu nhập trung bình thấp.

Với đà tăng trưởng kinh tế như hiện nay (sấp xỉ 7%/năm), cùng với sự ổn định về chính trị và ổn định kinh tế vĩ mô, cộng thêm việc tích cực hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và quyết tâm vươn lên những nấc thang cao hơn của chuỗi cung ứng toàn cầu, Việt Nam được các tổ chức quốc tế và các định chế tài chính quốc tế uy tín nhất dự đoán sẽ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng hiện tại trong ít nhất là 2 thập kỷ tới. Theo đó, Việt Nam hoàn toàn có thể chạm mốc các nước có thu nhập cao (gấp khoảng 3,5 lần so với mốc thu nhập trung bình cao) trong vòng 13 – 15 năm tới (dự kiến năm 2035) dù Đảng, Chính phủ đặt mục tiêu khiêm tốn hơn là vào năm 2045.

Như vậy, Việt Nam sẽ chỉ mất khoảng 25 năm (2010 – 2035) để vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Điều này, duy nhất Singapore đã làm được trong số các quốc gia Đông Nam Á.

Tất nhiên, đây mới chỉ là dự đoán và để đạt được thành tựu trọng đại này, mỗi người Việt Nam sẽ phải nỗ lực hết mình, cộng với việc phát huy một cách tốt nhất tiềm lực cùng khát vọng thịnh vượng mới mong đạt được. Nhưng, ngay từ bây giờ, triển vọng kinh tế Việt Nam đã được dự báo trước.

Phân loại các nước ASEAN ở thời điểm hiện tại:

Thời điểm hiện tại, ở Đông Nam Á chỉ có Singapore là nước có thu nhập cao, thậm chí là lọt vào top đầu thế giới. Trường hợp Bruney, tuy đạt mốc thu nhập cao ngay từ khi được trao trả độc lập (1984) nhưng chúng ta không tính đến vì GDP của họ đều do khai thác dầu khí và số dân quá nhỏ. Nói một cách hình tượng, Bruney “sinh ra ở vạch đích” nên không cần thoát bẫy thu nhập trung bình.

Có 3 nước đang ở mức thu nhập trung bình cao gồm Malaysia đang tiến gần ngưỡng thu nhập cao; Thái Lan cần khoảng 10-12 năm, Indonesia cần khoảng 15-20 nữa để đạt ngưỡng thu nhập trung bình cao.

Có 5 nước ở mức thu nhập trung bình thấp gồm: Việt Nam và Philippines đang tiến sát ngưỡng thu nhập trung bình cao và trong khoảng 2 năm tới sẽ cán mốc này; Lào cần khoảng 7-10 năm nữa, Campuchia cần 10-12 năm nữa để đạt ngưỡng trung bình cao. Myanmar mới thoát nhóm thu nhập thấp nhưng hoàn toàn có thể bị rơi trở về nhóm thu nhập thấp do các bất ổn chính trị và xung đột đẫm máu giữa quân đội với người biểu tình. Timo Leste là quốc gia Đông Nam Á duy nhất chưa phải là thành viên ASEAN và cũng chưa thoát khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp.

Triển vọng:

  • Singapore tiếp tục ngự trị trên nhóm các nước thu nhập cao nhất thế giới;
  • Bruney “đi ngang”, tiếp tục trồi sụt theo giá dầu và có nguy cơ tụt hậu khi dầu khí cạn kiệt và bị thay thế bởi nguồn năng lượng tương lai;
  • Malaysia sớm lọt nhóm thu nhập cao nhưng tốc độ tăng trưởng chậm. Họ sẽ dậm chân ở mức cao hơn thu nhập bình quân của thế giới trong nhiều năm và khó có cơ hội leo lên top trên của nhóm thu nhập cao;
  • Thái Lan và Việt Nam có thể cùng cán mốc thu nhập cao ở mốc 2035, +- 2 năm;
  • Indonesia và Philippines cùng có cơ hội cán mốc thu nhập cao trong khoảng 2040 – 2045;
  • Lào sẽ vươn lên nhóm thu nhập trung bình cao trước 2030 và có cơ hội cạnh tranh với Philippines, Indonesia trong cuộc đua lọt nhóm thu nhập cao;
  • Campuchia, Myanmar, Timo Leste thì còn quá sớm để nói đến viễn cảnh thoát bẫy thu nhập trung bình.

Theo diễn đàn kinh tế đô thị (VPC)