Giáo dục

TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐIỆN GIÓ NGOÀI KHƠI – THẾ TIẾN THOÁI LƯỠNG NAN CỦA CHỦ ĐẦU TƯ

Trong khi các dự án điện gió trong đất liền tỏ ra hiệu quả về mặt tài chính thì các dự án điện gió ngoài khơi kém may mắn hơn.
Có 02 cản trở chính: giá turbine cao và đặc biệt giá xây lắp cao.

  1. Về giá turbine
    1.1 Turbine
    Chiếm khoảng 36% tổng chi phí.
    Giá phổ biến của các hãng lớn chào giá khoảng 3,15 triệu USD/ turbine tương đương khoảng 0,75tr USD/MW (chưa gồm VAT).
    Một số hãng bắt buộc móng trụ phải theo quy cách của họ, ví dụ móng bê tông multiplies thay vì móng đơn monopole.
    1.2 Phần bảo trì O&M hàng năm:
    Đây là điểm rất cần lưu ý. Các hang lớn sẽ bảo hành 20 năm, giá cố định, bao gồm cẩu (crane).
    Tuy nhiên vấn đề tàu /xà lan(barge) lại không được đề cập. Tranh cãi có thể xảy ra sau này nếu hợp đồng không có tàu/xà lan thì bảo trì kiểu gì?
    Một số hãng không thể đưa ra cam kết 20 năm do không tính được giá thuê tàu hoặc biến động giá nhân công, cẩu… Đây là điểm mấu chốt.
  2. Giá xây lắp
    Chiếm khoảng 53% tổng chi phí. Chi phí cực lớn này đặt ra bài toán lớn nhất cho dự án điện gió là phải giảm hết mức mới mong hiệu quả trong bối cảnh chi phí turbine hầu như rất khó đàm phán do nhà cung cấp hiếm.
    Có 02 loại đối tác xây lắp (BOP): nước ngoài và Việt Nam
    2.1 Đối tác Việt Nam
    Rơi vào 02 loại chính: lớn quá hoặc bé quá. Các ông lớn thuộc PVN thì thường lắp đặt các dự án ngoài khơi xa nên thấy gần bờ mà không phải kết cấu thép thì thấy nhỏ quá.
    Các ông nhỏ thì thường là lính bộ lần đầu đánh thủy, mới tham gia 1 cấu phần nhỏ của dự án điện gió ngoài khơi, ít ông có khả năng làm BOP chứ chưa nói đến EPC.
    Một số ông thì báo giá trên trời.
    Việc yêu cầu ngặt nghèo về tiến độ trong tình trạng mùa biển động từ tháng 10 đến tháng 3 hàng năm khiến rất nhiều ông không dám nhận tiến độ. Ngoài biển khác xa trên bờ là như vậy trong khi kỳ hạn đóng điện COD là như nhau khiến dự án ngoài khơi rất bất lợi so với trên bờ.
    Thành ra số dự án gió ngoài khơi hoàn thành là rất hiếm nếu so với trên bờ chứ chưa nói đến ngoài trời.
    2.2 Đối tác nước ngoài
    Họ là tổng thầu EPC hoặc BOP nên có phí quản lý dự án khá cao. Chênh lệch giá này làm cho giá báo cao gây rất nhiều khó khăn cho chủ đầu tư.
    Việc chấp nhận đối tác nước ngoài, thường là Trung Quốc là tình cảnh bắt buộc của nhiều dự án khi doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ năng lực khiến chủ đầu tư lâm vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan.
  3. Các chi phí khác
    3.1 Chi phí phát triển dự án
    Tạm ước tính khoảng 3% tổng chi phí.
    Chi phí khảo sát, dự phòng: khoảng 4%-5%
    Chi phí trạm, đấu nối: Tùy quy mô dự án, khoảng 1%-3%
  4. Các phạm vi mấu chốt
    Cam kết sản lượng: không thấp hơn 97,5%.
  5. Tài chính dự án
    Vay ngân hàng trong nước với chi phí vốn khoảng 10%-11% thực sự gây khó cho điện gió ngoài khơi.
    Trong các phương án tính toán thường có tái tài trợ từ ngân hàng nước ngoài may ra mới khả thi.
    Trong trường hợp xấu nhất không tái tài trợ được thì EPV IRR khoảng 15% và thời hạn hoàn vốn là 14 năm, không hấp dẫn.
  6. Kết luận
    Khó khăn đủ đường nên các chủ đầu tư thường chọn phương án tìm nhà đầu tư nước ngoài để bán cổ phần hưởng chênh lệch công phát triển dự án, chỉ giữ lại 1 phần nhỏ cổ phần.
    Tình trạng dự án vất vả xin được mà không thực hiện thì bị sức ép, rồi sẽ khó có hồ sơ năng lực tốt để đăng ký các dự án tiếp theo với tỉnh, với Bộ nên nhiều anh phải cố gắng mà rất nhăn nhó.
    Điện gió ngoài khơi nhìn sạch, đẹp nhưng chi phí cao. Như ai cũng muốn đi tàu điện ngầm, nhưng mà nó tốn.
    Thôi thì cứ từng bước nhỉ.
  • NGUYỄN HOÀNG HẢI, Nguyên giám đốc dự án nhà máy điện gió Sóc Trăng –