Góc nhìn

Nhớ Trịnh Công Sơn

Bài viết về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rất hay từ FB Larry De King :

NHỚ TCS 01/04/2001.

Mẹ ngồi ru con đong đưa võng buồn, đong đưa võng buồn
Mẹ ngồi ru con mây qua đầu ghềnh, lạy trời mưa tuôn
Lạy trời mưa tuôn cho đất sợi mềm hạt mầm vun lên
Mẹ ngồi ru con nước mắt nhục nhằn xót xa đời mình…

Trịnh Công Sơn là một tượng đài kỳ vĩ của nền âm nhạc Việt. Viết cho đủ về ông là một điều rất khó, cần đến bậc cao thâm. Mình chỉ là tên viết amateur, hôm nay chỉ xin góp thêm một cái nhìn về người nhạc sĩ đáng kính mà cũng đáng thương này.

Ông sinh ra ở Buôn Mê Thuộc, nhưng là một người con nặng tình gốc Huế, không học nhạc ở một trường danh tiếng nào, chỉ nhờ niềm đam mê và tài năng thiên bẫm mà ông đã để lại cho đời một khối lượng đồ sộ những tác phẩm bất hủ.
Những lời ca tụng dành cho ông quá nhiều. Người bảo ông là người nhạc sĩ hát rong qua nhiều thế hệ, người khác tôn ông là nhạc sĩ viết tình ca hay nhất thế kỷ. Nhạc sĩ Văn Cao bảo, ở Trịnh Công Sơn nhạc và thơ hoà quyện vào nhau không thể tách rời. Đoàn Chuẩn lại bảo TCS là phù thuỷ của ngôn ngữ. Phạm Duy cho rằng TCS là nhạc sĩ của quê hương, tình yêu và thân phận con người, và có lẽ ông đúng nhất.

Riêng Trịnh Công Sơn chỉ khiêm tốn nhận mình là loài chim nhỏ hát chơi trên đầu những ngọn lau.

Nếu bảo rằng TCS là một nhạc sĩ viết tình ca, dù là hay nhất thế kỷ, thì quá thiếu sót. Với tôi, ông vĩ đại vì có một trái tim yêu thương bao la và nhạy cảm với nỗi đau của quê hương và phận người.
Lớn lên trong giai đoạn điêu linh của đất nước, phải chứng kiến quá nhiều nỗi tang thương chết chóc, nên nhạc của ông là tiếng nấc nghẹn, là nỗi đau cùng cực khi quê hương ngập chìm trong khói lửa chiến tranh. Nhạc sĩ Nguyễn Ðình Toàn từng bảo nhạc Trịnh Công Sơn là những bản tình ca không có hạnh phúc, những bài hát cho một quê hương đổ vỡ.

Làm sao có thể hạnh phúc khi vào một buổi sáng mùa xuân, ông nhìn thấy một đứa bé ra đồng, đạp trái mìn nổ chậm, xác không còn đôi chân? Làm sao có thể vui khi chiều về, ông đi lên đồi cao hát trên những xác người? Làm sao có được một giấc ngủ bình yên khi đêm đêm có tiếng đại bác xa xa dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe, thản nhiên và vô hồn?
Với một trái tim yêu thương nhưng mong manh gầy guộc, ông chỉ còn biết van xin cho quê hương không còn tiếng súng, để phận người vơi bớt khổ đau.
Xin cho mây che đủ phận người
Xin cho đêm không có đạn bom…

Xin cho tôi quên phận tù đày
Cho tôi quên một nấm mộ tươi…

Có lẽ tuyển tập ca khúc da vàng của ông là những bài hát giá trị nhất, mang theo dấu ấn một giai đoạn nội chiến đau thương nhất của lịch sử Việt. Đây là những bài ca ứa ra từ một tâm hồn rỉ máu, và con tim bi thương tuyệt vọng. Hầu hết những ca khúc này phản đối bạo lực và chiến tranh, kêu gọi tình tự dân tộc để đoàn kết và xoá bỏ hận thù. Với ông, cái chết từ bất cứ phía nào cũng là nỗi đau chung của dân tộc, và cuộc chiến nồi da xáo thịt này, dù bên nào thắng cũng để lại cho mẹ Việt Nam một đất nước u buồn, một núi đầy mồ và một rừng xương khô.

hai mươi năm nội chiến từng ngày
gia tài của mẹ, một rừng xương khô
gia tài của mẹ, một núi đầy mồ.

Và ông đã đúng. Cuộc chiến kết thúc với hơn ba triệu mạng, xương người Việt rải trắng núi rừng, để rồi, ai bây giờ, sẽ, tạ lỗi với Trường Sơn? (Thơ Đỗ Trung Quân).

Là một người nghệ sĩ chỉ có con tim yêu thương và niềm tuyệt vọng, ông ghê tởm và phản đối cuộc chiến, vô tình ông lại đi giữa hai làn đạn. Phe quốc gia có những người từng cho rằng ông là tên phản bội, trốn lính. Người cộng sản cũng không ưa gì ông. Họ xem nhạc của ông vàng vọt ủy mị, chỉ chống chiến tranh chung chung mà không có tính giai cấp.
Ngày 30 tháng 4 1975 ông là người lên đài phát thanh Sài Gòn hát Nối vòng tay lớn, và kêu gọi hòa hợp anh em một nhà. Động thái này làm người quốc gia thêm oán hận, bảo ông là VC nằm vùng, nhưng có ai biết rằng ông không thể không hát?

Ngay sau đó ông đã phải bỏ trốn về Huế vì có tin ông sẽ bị thủ tiêu. Những nguời cách mạng quá khích đã không chấp nhận thứ âm nhạc và con nguời bị cho là hai mặt của ông, bởi lý do ông có nhiều bạn bè có vai vế cao trong chính thể Việt Nam cộng hòa.

Mà về Huế nào có yên, ông sống lặng lẽ trong con mắt hoài nghi ghét bỏ của chính quyền mới. Nơi đây, những tên vệ binh đỏ nửa mùa đã kích động sinh viên treo tấm biển “Hạ bệ Phạm Duy – Hoàng Thi Thơ – Trịnh Công Sơn” trước cổng trường Đại Học Sư Phạm Huế.
Tiếp sau đó, hội Văn nghệ Thừa thiên – Huế tổ chức cuộc đấu tố “Trịnh Công Sơn có công hay có tội?”, trong đó ông phải khổ sở nhất về bản Hát cho một người nằm xuống, một tuyệt phẩm ông viết như một lời tiếc thương cho người bạn thân đại tá không quân Lưu Kim Cương, người che chở cho TCS không bị bắt lính, khi ông này gãy cánh. Rồi nữa, tại sao cuộc chiến đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm luợc lại là 20 năm NỘI CHIẾN từng ngày? Cuộc đấu tố kết thúc bằng cách ông phải lên đài truyền hình Huế đọc lời “Ăn năn thú tội” của mình. Và chính tên “Bạn thân” Hoàng Phủ Ngọc Tuờng, gã cộng sản trung kiên, là nguời bắt ông phải viết đi viết lại nhiều lần vì chưa thành thật.

Có nguời ví cuộc đời ông như một bi kịch thu nhỏ của đất nuớc, khi anh em phải huynh đệ tuơng tàn vì một chủ thuyết ngoại lai, để rồi lòng hận thù nghi kỵ phủ khắp hai phía, cho dù gần một nửa thế kỷ đã trôi qua.

*TÌNH CA.
Ngoài ca khúc da vàng mang nặng tính phản chiến, TCS khởi nguồn với tình ca, và đề tài này chiếm phần lớn trong gia tài âm nhạc của ông.
Ông viết Ướt mi năm 17 tuổi, và bắt đầu được chú ý, nhưng cho đến khi có cuộc gặp gỡ định mệnh với ca sĩ Khánh Ly, nữ hoàng chân đất của quán Văn tổ chức bởi nhóm sinh viên đại học Văn khoa, các tác phẩm của ông bắt đầu gây tiếng vang lớn, nhất là trong giới sinh viên. Từ bệ phóng quán Văn, nhạc Trịnh đi vào phòng trà, được thu băng cassette, và trong một thời gian ngắn đã chinh phục hầu hết người nghe.

Theo Phạm Duy, về phần nhạc, toàn thể ca khúc Trịnh Công Sơn không cầu kỳ, rắc rối vì nằm trong một số nhạc điệu đơn giản, chỉ cần một cây guitar đệm là có thể hát và nghe. Nhạc của ông không thích hợp với các kiểu phối âm rườm rà. Nhưng ngôn ngữ trong nhạc Trịnh Công Sơn mới là tuyệt diệu, rất mới, chất chứa những hình ảnh lạ lùng, quyến rũ như cơn mưa hồng, thuở hồng hoang, dấu địa đàng, cánh vạc bay…

Nói đến nhạc Trịnh phải nói đến phần lời mang nặng chất thơ. Mỗi bài hát của ông là một bài thơ được thăng hoa qua nốt nhạc. Đặc biệt nếu xét về câu cú, ngữ pháp chúng dường như vô nghĩa, khó hiểu, nhưng khổ nỗi nghe thì lại phê như thuốc phiện. Đố ai hiểu được một trích đoạn trong Diễm xưa dưới đây:
Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ
Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao
Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ
Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu.

Xét về nghĩa ngữ, chúng rời rạc mơ hồ, nhưng lại có công năng đưa ta vào cõi du dương mê hoặc.

Tình yêu trong nhạc Trịnh không phải là hình ảnh đôi tình nhân lãng mạn, không có kiểu đôi lứa bên nhau thề non hẹn biển. Hầu hết nhạc tình của ông là những bản tình ca buồn diễm lệ.
Vì buồn tủi cho phận người mà cỏ xót xa đưa, đá cũng biết buồn, bia đá biết đau. Nhạc tình của ông không thấy niềm vui, chỉ có Tình xa, Tình nhớ, Tình lỡ cùng nỗi phiền muộn, đau đớn, xót xa.
Tràn ngập trong tác phẩm của ông phảng phất nỗi buồn theo nhiều cách.
Ngày mai em đi, cồn đá rêu phong rũ buồn, đèn phố nghe mưa tủi hờn, nghe ngoài trời giăng mây tuôn…
Chiều nay còn mưa, sao em không lại, nhỡ mai, trong cơn đau vùi, làm sao có nhau, hằn lên nỗi đau…
Trong Ru ta ngậm ngùi, ông viết những lời thơ buồn, đẹp đến não nề:
Em về, hãy về đi, ta phiêu du một đờị
Hương trầm có còn đây, ta thắp nốt chiều nay
Xin ngủ trong vòng nôi, ta ru ta ngậm ngùi,
Xin ngủ dưới vòm cây…

Điều đặc biệt nhất, nhạc của ông không có tuổi. Cứ ngỡ nỗi phiền muộn luôn hiện diện, và có đôi khi nặng tính triết lý trong nhạc của ông chỉ dành cho người lớn tuổi, nhưng không, thực tế cho thấy cả giới trẻ tuổi teen cũng rất yêu thích nhạc Trịnh. Có thể nói hầu hết người Việt Nam, ở mọi lứa tuổi, không ai là không thể ngân nga vài câu hát nhạc Trịnh.

Không những thế, cùng với tiếng hát Khánh Ly nhạc của ông vượt biên giới để đến với khán giả Nhật năm 1970. Từ đó đến nay Diễm xưa, Hạ trắng, Biển nhớ, Ca dao mẹ… không chỉ là của người Việt, mà còn được yêu thích đặc biệt ở Nhật.

*PHẬN NGƯỜI VÀ CÁI CHẾT.
TCS là người con xứ Huế, cái nôi của Phật giáo, nên ông chịu ảnh hưởng nhiều triết học Phật. Từ bé ông đã bị ám ảnh bởi nỗi chết. Cha ông vì chống pháp nên ở tù, ông chết khi TCS được 15 tuổi. Khổ đau và cái chết của cha khiến ông chứng ngộ được lẽ vô thường của kiếp người. Từ đó, nhạc của ông mang nặng nỗi buồn thân phận.
Ông từng bảo sống thì khó nhưng chết lại quá dễ. Sống và chết chỉ cách nhau vài hơi thở, và đứng trước cái chết mọi thứ trên đời trở nên vô nghĩa.

Alexandros đại đế của Hy lạp cổ sau 12 năm chinh phạt mở mang bờ cõi chưa hề nếm mùi chiến bại, một hôm ngã bệnh và biết mình không qua khỏi, ông mới thảng thốt nhận ra sự hữu hạn của kiếp người. Trong lời trối trăn ông dặn ba điều:

  1. Quan tài của ông phải được khiêng bởi những viên ngự y giỏi nhất.
  2. Vàng bạc châu báu của ông tích cóp được trên đường chinh phạt phải được rải dọc đường đến mộ của ông.
  3. Khi tẩn liệm ông, phải để hai bàn tay của ông lắc lư bên ngoài.
    Thông điệp của ông là khi thần chết đến, tất cả các vị ngự y giỏi nhất cũng bó tay. Khi ấy, tất cả tài sản ta cả đời góp nhặt cũng sẽ ở lại với thế gian chứ ta không mang theo được. Và hai bàn tay đưa ra ngoài để mọi người thấy rằng ta đến thế gian này trần trụi thì ra đi cũng chỉ với hai bàn tay trắng, cho dù ta là bậc đại đế của cả thiên hạ.

Steve Jobs, nhà sáng tạo vĩ đại, cha đẻ của các sản phẩm bắt đầu bằng chữ i: iPhone, iPad, iPod, iWatch… qua đời ở tuổi 56 lúc đang trên đỉnh vinh quang. Nhà tỷ phú này rồi cũng không thể dùng tiền mua được mạng sống. Ông từng bảo rằng chả thích thú gì khi mang tiếng là người giàu nhất nghĩa địa. Lúc này ông mới hiểu iLive therefore iDie.

Sinh-lão-bệnh-tử là quy luật của muôn đời. Dù là một bậc quân vương hay tên lính hầu, một tỷ phú hay người ăn xin, đẹp xấu, giàu nghèo, tiếng tăm đều phải một lần chết. Và trước cái chết mọi người đều bình đẳng.
Đây là nỗi ám ảnh lớn nhất nên nhạc Trịnh luôn mang nỗi buồn đau mất mát của thân phận con người. Từ đó ta mới có Cát bụi, Phôi pha, Một cõi đi về, Chiếc lá thu phai, Hát cho một người nằm xuống, độc đáo nhất là trường khúc Đóa hoa vô thường. Trong Gọi tên bốn mùa ông kết thúc bằng lời tiên đoán buồn thảm:
Nghe xót xa hằn lên tuổi trời
Trẻ thơ ơi trẻ thơ ơi
Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người.

Vào những năm cuối đời, khi tên tuổi của ông chói lọi nhất, ông lại lún sâu vào nỗi cô đơn và niềm tuyệt vọng. Ông từng thốt lên, giờ đây tôi chỉ còn một niềm tin cuối cùng – tin vào niềm tuyệt vọng. Lời hát của ông cũng trở nên quá bi thảm:
Con diều bay mà linh hồn lạnh lẽo
Con diều rơi cho vực thẳm buồn thêm.

Có lẽ số phận của một thiên tài luôn là bi kịch, và Trịnh Công Sơn cũng không là ngoại lệ.

*CON NGUỜI CHÍNH TRỊ.
Trí thức và văn nghệ sĩ thuờng ngây thơ chính trị. TCS không là ngoại lệ. Phải thừa nhận rằng truớc 75 ông có cảm tình với CS. Mà nào chỉ có ông, một số sinh viên, trí thức thời ấy cũng bị lừa bởi cái lý thuyết CS không tuởng tuyệt đẹp.
Nói chính trị với TCS thì chán phèo. Ông ngu ngơ như một đứa trẻ, chỉ thích vui đùa với bạn. Bạn sao thì ông vậy. Ông có bạn từ cả hai phía. Một bên thì ông giao du thân mật với nhóm sinh viên thân cộng Huế, đặc biệt là nhà cộng sản khét tiếng Hoàng Phủ Ngọc Tuờng. Bên kia ông lại có nguời bạn thứ dữ là đại tá không quân VNCH Lưu Kim Cuơng, nguời đuợc cho là che chở ông trốn lính.
Về điểm này mình thấy thật là một điều may mắn. Hãy tuởng tượng một chàng thanh niên 42 kg, thân nhẹ nhàng như mây, đi đứng lơ ngơ mà ra nơi chiến truờng khốc liệt thì chỉ tồn tại chắc trong vòng một nốt nhạc. Và rồi chúng ta vĩnh viễn không có nhạc Trịnh. Xin 1000 lần cảm ơn đại tá Lưu Kim Cuơng.

Sau này, sau một thời gian bị đì, nhờ có Võ văn Kiệt mà ông bắt đầu đuợc trọng dụng. Ông trở lại Sài Gòn. Lần này, cố gắng với thời thế, với sự khuyến khích của những nguời bạn văn nghệ mới, nhất là nhà văn Nguyễn Quang Sáng, nhạc sĩ Từ Huy… Ông bắt đầu sáng tác trở lại, và cho ra lò Huyền thoại mẹ, Ra nông truờng ra biên giới.

Đến đây, nguời phía bên kia rõ ràng có lý do để giận dữ. Ông đã không còn trung dung nữa, mà đi ca ngợi một bên cuộc chiến. Ông vẽ nên hình ảnh huyền thoại của nguời mẹ ngồi duới cơn mưa che dấu việt cộng nằm vùng, gọi nguời lính Việt Nam cộng hòa là quân thù.
Thế còn những bà mẹ phe thua cuộc lặn lội đuờng xa thăm con đang bị giam giữ đoạ đày nơi rừng thiêng nuớc độc, họ có phải bà mẹ Việt Nam?

Em còn nhớ hay em đã quên là một nhạc phẩm ra đời khoảng 1979 giữa lúc dòng nguời vuợt biên ngày càng nhiều, bất chấp đại duơng sóng dữ. Tác phẩm hay dịu dàng, nhắc nhớ về Sài Gòn của biết bao kỹ niệm, như níu kéo buớc chân nguời ra đi. Nghe bảo tác phẩm đuợc đặt hàng bởi Võ Văn Kiệt. Nhưng vô tình nó lại làm một cơn bão từ hai phía.
Những nguời di tản từ bên kia bờ đại duơng bảo đừng nói dối chúng tôi nữa, Sài Gòn đã hoang vắng tiêu điều, làm sao mà “Nơi này vẫn thế, vẫn lấp lánh hoa” đuợc.
Mặt khác, bài hát lại bị cấm một thời gian bởi nguời cách mạng. Với họ, thành phố đã “Phát triển” nhiều duới bàn tay của đảng quang vinh, sao lại “Nơi này vẫn thế”?

Tất cả cũng là do bạn bè thôi. Sơn là thế, không vững lập truờng, mãi mãi ông chỉ là nguời nghệ sĩ tài hoa nhưng lơ ngơ chính trị.

Nhưng rõ ràng ta thấy những bản nhạc đó không có nhiều chất Trịnh. Nó phảng phất chút tài năng, nghe khá hay, nhưng không có cái hồn của Trịnh, vì thế chúng dần chìm vào quên lãng – những bài hát mà chính ông cũng muốn quên đi.

Cũng may là chỉ có hai bài không mang hồn Trịnh. Từ đó về sau ông trở lại là chính mình, phần lớn sáng tác ông bàng bạc triết lý nhân sinh. Ghi đậm dấu ấn nhất là Ở trọ và Để gió cuốn đi. Vâng, trần gian chỉ là quán trọ, vì thế sống trong đời sống cần có tấm lòng, để làm gì em biết không?

Bài này mình viết cũng khá lâu, nay chỉnh sửa lại chút để bà con đọc cho vui, xin đừng tranh cãi…