Góc nhìn

Phật sống và chuyện dụng…người.

Có ba người Việt Nam liên quan đến Phật giáo mà giới Phật giáo hiện đại trên thế giới ai ai cũng kính trọng, tôn vinh và mong được gặp dù chỉ một lần trong đời đó là Phật sống Lưu Công Danh, thiền sư Thích Nhất Hạnh và thiền sư Lê Mạnh Thát.

Nhưng rất tiếc cả ba tên tuổi rất lớn ấy đã không được chính thể hiện nay và Giáo hội Phật giáo VN hiện nay quan tâm và tôn vinh để đưa giá trị Phật giáo VN lên cao- làm niềm tự hào cho hàng triệu Phật tử nước nhà.

Hiểu người tài và dụng người tài để đóng góp cho Đất nước đang là vấn nạn lớn nhất của nhà cầm quyền.

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, râu
Phật sống Lưu Công Danh (bên phải) và nhà văn Phạm Tường Hạnh. Chụp 1997 khi Phật sống 97 tuổi.

Nhà văn Phạm Tường Hạnh vừa được Hội Nhà văn VN kỉ niệm 100 năm ngày sinh. Dấu ấn lớn nhất của nhà văn để lại cho nền văn chương nước nhà là những ghi chép lịch sử Nam bộ trong đó nhà văn là người đầu tiên cho biết VN có một Đức Phật sống- Vua Phật.

Câu chuyện VN có Phật sống được lưu truyền trong đồng bào Nam bộ đã lâu, năm 1953 nhà văn Phạm Tường Hạnh là người ghi chép tiểu sử của ông Lưu Công Danh và được ông kể về quá trình tu tập của ông cũng như 10 năm dằng dặc ông một mình đi thỉnh kinh ở Đất Phật Tây phương bên Ấn Độ để rồi được thành Phật sống thế nào.

Nhưng không hiểu vì lẽ gì đến tận năm 1997 nhà văn mới chính thức công bố những tư liệu này?

Và lập tức công bố của nhà văn Phạm Tường Hạnh đã trở thành sự kiện thời sự trong giới Phật tử và dư luận.

Tuy vậy, Phật sống Lưu Công Danh vẫn không được giới chức trách và Giáo hội Phật giáo VN quan tâm để trân trọng và tôn vinh.

Đồng thời vì lẽ này lẽ nọ thuộc dạng nhậy cảm chính trị nào đó mà câu chuyện cụ Hồ cho vời Phật sống Lưu Công Danh ra Hà Nội tiếp tổng thống Ấn Độ Praxat không được ghi chép trong ghi chép của nhà văn Phạm Tường Hạnh đăng trên báo Nhân Dân và công bố trên bất cứ báo chính thống nào. Trong hồi kí của Lưu Công Danh in năm 2015 cũng không hề nhắc đến câu chuyện này.

Câu chuyện ấy được Phật sống Lưu Công Danh và một số nhân vật liên quan kể lại cho nhà văn phản biện Hà Văn Thuỳ như sau:

Một sáng mùa hè năm 1958, chiếc xe com-măng-ca biển số đỏ chở hai người sĩ quan dừng trước doanh trại Sư đoàn 338 đi tìm Phật sống.

Cuộc tìm kiếm Phật sống không khác nào mò kim đáy bể. Không thể tìm Ba Chà trong danh sách quân nhân vì đó là tên dân gian Nam Bộ. Ông này thứ ba nhưng người Chà Và (Ấn Ðộ) nên dân gian kêu là Ba Chà ! Phải nhiều ngày mò mẫm qua từng đơn vị rồi một hôm 3 sĩ quan đến Ðại đội 19 công binh, Trung đoàn 3. Một tiểu đội trưởng tình cờ nghe thấy các sĩ quan bàn nhau việc kiếm Phật sống Ba Chà, anh nói :

– Tôi có biết một ông Phật sống nhưng không rõ ổng có phải Ba Chà không ?

Mừng như bắt được của, các phái viên hối dẫn đi tìm ngay. Tiểu đội trưởng tên là Trần Hữu Ðức dẫn họ tới Chợ Chuối xã Thăng Long huyện Nông Cống. Xe dừng lại trước khu lò gạch, chiến sĩ đang làm việc ì xèo. Hai Ðức dẫn mấy anh em ra hiện trường thì gặp đại đội trưởng lò gạch là ông già to cao đang gánh đất, chân tay lấm bê bết :

– Ðó, ổng đó !

Chuyện là thế này : Hiệp định Giơnevơ năm 1954 lập Uỷ ban Giám sát và Kiểm soát đình chiến tại Việt Nam do Ấn Ðộ làm chủ tịch, hai thành viên là Ba Lan và Canada. Ấn Ðộ là nước trung lập nhưng lúc đó chưa hiểu lắm về ta nên trong nhiều vụ việc cụ thể gây cho ta không ít khó khăn. Tranh thủ được Ấn Ðộ không chỉ có lợi lúc này mà còn là chiến lược lâu dài vì vai trò quan trọng của Ấn trong khu vực và thế giới. Thực hiện nhiệm vụ ngoại giao cấp bách này, Bác Hồ đã mời Tổng thống Ấn Ðộ Praxat và phu nhân sang thăm nước ta với danh nghĩa nước Chủ tịch Uỷ ban quốc tế. Trước chuyến thăm, qua con đường ngoại giao, ta biết có một số vấn đề về quan điểm bạn chưa đồng ý với ta. Nếu không thuyết phục được bạn, cuộc viếng thăm sẽ kém kết quả. Nhưng làm sao để thuyết phục ? Bộ Ngoại giao lúc đó tìm hết phương kế nhưng đành chịu. Thứ trưởng Ung Văn Khiêm chợt nhớ, trong kháng chiến ở miền Tây Nam Bộ có ông Phật sống Ấn Ðộ tên Ba Chà làm Giám đốc Ðề lao binh. Nghe nói gia đình người vợ Ấn Ðộ của ông ta có họ hàng với Thủ tướng Nê Ru. Tổng thống Praxat và phu nhân cũng là phật tử. Nếu có được ông Vua Phật Ấn Ðộ để giao thiệp với phái đoàn Ấn Ðộ thì quá ngon ! Ý kiến này được báo cáo lên Bác Hồ. Bác ủng hộ liền. Công việc tìm Phật sống được giao cho bên Quân đội. Ðại tướng Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh cử nhóm công tác đi Thanh Hoá là nơi hai sư đoàn bộ đội Nam Bộ đang đóng.

Về Hà Nội, trung uý Lưu Công Danh được đưa tới gặp Phó Thủ tướng Phan Kế Toại bàn về việc tiếp phái đoàn Ấn Độ, sau đó được bố trí nghỉ tại Bộ Ngoại giao. Bác Hồ bố trí thời gian gặp Ba Danh. Bác nói :

– Chính phủ Ấn chưa hiểu mình nên trong công việc có gây cho Chính phủ ít nhiều khó khăn. Chú có thể giúp cho phái đoàn ta. Thế này nhé, chú hút thuốc đi, Bác chỉ vào gói thuốc Ðại Tiền Môn trên bàn, mỉm cười, sau đó nói chậm rãi, có thể bà vợ Tổng thống Praxat sẽ xin gặp chú nếu biết chú đang ở Hà Nội. Bà Praxat là phật tử nên rất ngưỡng mộ Phật sống Ấn Ðộ. Vậy nếu bà ấy gặp chú thì rất tốt cho công việc của ta với phái đoàn Ấn Độ.

Ít ngày sau thì Tổng thống Praxát cùng phái đoàn Ấn Ðộ đến Hà Nội, theo chuyến bay đặc biệt từ Sài Gòn ra. Trong chuyến thăm ngoại giao này, chính phủ Việt Nam có phần bị thất thế so với chính quyền Sài Gòn. Đoàn của Tổng thống Praxat tới Sài Gòn trước rồi mới ra Hà Nội, là chỉ dấu cho thấy Ấn Ðộ nghiêng về phía Ngô Đình Diệm. Báo chí của chính quyền Sài Gòn làm rùm beng chuyện này, coi như thắng lợi lớn của “chính nghĩa quốc gia”. Quả như dự liệu lúc đầu, có một số vấn đề giữa ta và bạn khác quan điểm nên buổi hội đàm thứ nhất diễn ra không suôn sẻ. Trung ương rất lo. Qua câu chuyện hành lang, ta bóng gió cho người Ấn biết là Phật sống Ấn Ðộ Hăcxacôp Chanđra đang ở Hà Nội. Ông rất nhớ đất nước Ấn Ðộ, muốn biết tin tức gia đình. Biết tin này, phu nhân Tổng thống Praxat rất mừng, bà nhờ Đoàn Việt Nam xin tiếp kiến Phật sống.

Hai chiếc xe hơi sang trọng mang cờ Ấn Ðộ tiến vào biệt thự trên đường Quán Thánh gần Hồ Tây. Chiếc xe màu đen dừng lại trên lối đi rải sỏi. Từ ghế đầu, người sĩ quan tuỳ tùng bước xuống mở cửa. Người đàn bà Ấn son sẻ nước da màu đồng hun mặc sary vàng bước ra khỏi xe. Chiếc túi xách nhỏ màu mận chín trong tay, bà nhìn bao quát ngôi biệt thự. Hạt kim cương từ chiếc nhẫn trên ngón tay thon dài phản quang loé sáng. Từ chiếc xe trắng đi sau mang cờ của Ủy ban quốc tế giám sát và kiểm soát đình chiến ở Đông Dương, ba người đàn ông mang đồng phục trắng lần lượt xuống xe. Anh cán bộ lễ tân người Việt hướng dẫn phu nhân Tổng thống cùng các vị khách bước lên tam cấp, qua phòng khách lớn rồi lên cầu thang. Tới một căn phòng cửa mở, hai sĩ quan người Ấn nhanh nhẹn đứng lại hai bên cửa, còn hai người khác tháp tùng phu nhân tổng thống bước vào. Theo thường lệ, anh cán bộ người Việt đi trước dẫn đường. Vừa vào trong phòng, cả ba người khách nước ngoài bước vội lên trước rồi quỳ xuống tấm thảm Ba Tư trải trên sàn, đầu cả ba người cúi sát đất. Không xa trước mặt họ là cái sập gỗ mun khảm trai trải chiếu hoa. Trên đó Phật sống Ba Danh dáng cao lớn, nước da ngăm đen, mặc cà sa màu vàng trong tư thế tọa thiền, hai mắt nhắm lại. Trên cao phía sau ông là bàn thờ Phật với hình Quan Thế âm, những nén nhang cháy toả mùi trầm thơm sâu lắng. Sau khi lạy, cả ba người trong tư thế quỳ, hai tay chắp trước ngực, đầu cúi, mắt nhắm lại vẻ thành kính.

Lúc lâu sau Phật sống mở mắt, nhìn xuống ba phật tử, nói chậm rãi tiếng Hinđu bằng giọng Newdelhi trầm ấm :

– Mừng các con tới đất nước Việt Nam. Thầy ban phước cho các con. Bữa nay thầy cho các con biết một phần của đời thầy. Chắc các con vẫn nhớ, theo quy định của người tu Phật, sau khi thành Phật, có thời gian hai năm để tế độ chúng sanh thì trở về trời trong giàn lửa. Nhưng năm ấy, thầy đã không về trời theo cách đó vì thầy còn có việc phải làm. Trong đêm thầy được chánh quả, Phật tổ có dạy rằng, sau thời gian ở Ấn Độ, thầy phải về nước Phật giáo sát bên đất nước của thầy để khi nước được độc lập thì về tế độ đồng bào mình. Vậy là theo lời Phật tổ, thầy đã về nước anh em là Miên quốc. Thầy tế độ chúng sinh ở đó. Khi Việt Nam được độc lập thì theo lời Phật tổ, thầy về nước. Nhưng đúng lúc đó thì Pháp trở lại xâm lược. Không còn cách nào khác, thầy phải cùng Chính phủ cứu chúng sinh, giữ vững nền độc lập cho Việt Nam. Cũng trong đêm thành chánh quả đó, Phật tổ có đem giáo lý đạo Phật truyền cho thầy. Trong những điều thầy được nghe thì chính Phật tổ nói : “Đạo Phật ưa sống hoà bình nhưng nếu có bọn ác tới tàn hại chúng sinh thì phải đánh đuổi chúng đi.”

Ba người quỳ nghe một cách thành kính. Im lặng một lúc lâu, ngài nói tiếp :

– Nay các con sang Việt Nam cũng là làm công việc theo lời Phật dạy. Giúp người Việt Nam cũng là giúp cho nhân dân Ấn Độ. Rồi chúng sanh hai nước sẽ được sống hoà bình trong tình anh em…

Nói tới đây Phật sống dừng lại. Những vị khách im lặng chờ đợi. Lúc lâu sau không thấy ngài nói nữa, họ ngẩng nhìn lên thì nhận ra Phật sống ngồi im như pho tượng, hai mắt nhắm nghiền…

Lặng lẽ, cả ba người lết bằng đầu gối tới bên sập gụ. Họ khom người tới gần Phật sống, nâng vạt áo cà sa hôn một cách thành kính, sau đó vái ba vái rồi đi lùi ra cửa.

Cuộc hội đàm hôm sau diễn ra thuận lợi không ngờ, nhiều đề xuất của Việt Nam được chấp nhận, tuyên bố chung được ký kết, Tổng thống Praxat mời Bác Hồ sang thăm Ấn Ðộ, mở ra trang mới trong quan hệ Việt Ấn.

Sau sự kiện được là chính Phật sống kia ông Lưu Công Danh bình thản là một người dân bình thường nhất, thậm chí rất trớ trêu ông bị nhiều kẻ đố kị xô đẩy vào nhiều hoàn cảnh khó khăn, nghi kị thậm chí không được trọng dụng với đúng sứ mệnh và vị trí của ông.

Nhà văn Hà Văn Thuỳ kể gã nghe, khi ở Rạch Giá, Kiên Giang Phật sống Lưu Công Danh không có nhà, sống trong nghèo khó, không được chính quyền Trung ương lẫn địa phương để ý quan tâm. Nhưng cả nhà văn Phạm Tường Hạnh và nhà văn Hà Văn Thuỳ khi chứng kiến cảnh nghèo của Phật sống đều ngạc nhiên là ông luôn bình thản và mọi tâm trí chỉ dành cho giúp người, cứu người.

Cả hai kết luận: ông đúng là Phật sống.

Bài viết của nhà văn Lưu Trọng Văn.